Thương nhớ những nghề không còn nữa...
Một hồi ức về những nghề mưu sinh đặc trưng thời bao cấp: tích kê quần áo, sửa xe đạp, mài dao kéo, cắt tóc dạo, bán kem và hàn dép.
Trong dòng chảy của cuộc sống, tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển mà xã hội sẽ đón nhận những nghề mới xuất hiện, chứng kiến những nghề đang thịnh hành và tiễn biệt những nghề không còn lý do tồn tại. Tất cả đều được vận hành và quyết định bởi quy luật cung - cầu khách quan của lịch sử…
Ngày xưa, vào thời bao cấp nhọc nhằn, chính cuộc sống vật chất quá đỗi thiếu thốn đã khai sinh ra biết bao nhiêu cái nghề độc lạ để người ta mưu sinh và phục vụ nhu cầu tối thiểu thường nhật. Đúng là “cái khó ló cái khôn”, bất cứ thứ gì có thể tận dụng, tái chế được, người ta đều đem ra làm, chỉ với hy vọng kiếm thêm vài đồng bạc lẻ chỉ để nhằm cải thiện bữa ăn của gia đình.
1- Từ Miếng “Tích Kê” Đến Chiếc Cổ Áo Lộn Ngược…
Ngày ấy, chiếc quần hoặc cái áo rách là phải tận dụng “tích kê” lại ngay để tiếp tục sử dụng chứ không bỏ đi, thậm chí khi vải mới chỉ hơi sờn thôi người ta đã đi trước một bước đem gia cố “cho nó bền”.
Năm tôi đang học cấp Hai, anh Ba đi học đại học nên tôi được thừa hưởng lại từ anh chiếc quần vải simili màu ngà. Thời đó, loại vải này bền và thuộc hàng “diện” nên tôi thích lắm. Tôi mặc mãi đến mức sờn cả mông và hai đầu gối, thế là phải mang ra hiệu may vá của cô Hồng cùng phố để tích kê.
Có thể các bạn trẻ ngày nay không hiểu “tích kê” là gì. Đó là việc gia cố cho dày dặn và bền vững ở những vị trí hay bị mài mòn như mông, đầu gối quần hoặc khuỷu tay áo. Người thợ sẽ đặt một tấm vải bền vào mặt trong của áo quần ngay tại vị trí cần gia cố, rồi chạy đường may dọc theo chu vi tấm vải đó nhiều lần. Mỗi lần may, chu vi lại đi dần vào trung tâm theo kiểu xoáy trôn ốc. Khoảng cách giữa các đường chỉ cách đều nhau, phụ thuộc vào diện tích khu vực cần tích kê sao cho vừa dày, vừa bền mà vẫn giữ được tính thẩm mỹ.
Còn cái áo sơ mi nếu chẳng may sờn hoặc rách cổ, thợ may sẽ tháo rời cổ áo ra, lộn mặt vải bên dưới lên trên, rồi may lại như cũ là trông lành lặn như áo mới. Còn nếu ở bất kỳ chỗ nào vải không sờn, nhưng chẳng may bị thủng một lỗ không to lắm thì người thợ sẽ khéo léo dùng kim và chỉ cùng màu để lấp kín lỗ thủng ấy, sao cho khi nhìn vào sẽ rất khó nhìn ra chỗ thủng đó nữa, việc đó gọi là “mạng quần áo”. Bởi thế, thời bấy giờ, những cửa hàng treo biển với dòng chữ: “Ở đây nhận tích kê, mạng quần áo và lộn cổ sơ mi” mọc lên như nấm khắp các tỉnh thành.
…Đến Chiếc “Lốp Cố Vấn” Và “Măng Sông Nối”
Ngày đó, chiếc xe đạp vừa là phương tiện, vừa là một tài sản khổng lồ nên được gìn giữ cẩn thận lắm. Người kỹ tính thì suốt ngày lau chùi đến nỗi mà ngay cả xích với líp cũng sạch bóng, trang điểm cho xe bằng cách cài thêm bông hoa nhựa hoặc dán đề-can… Đi đâu về là họ lau chùi sạch sẽ rồi treo xe lên vị trí trang trọng trong nhà.
Câu nói vui: “Đẹp trai đi bộ không bằng mặt rỗ đi Peugeot” phần nào phản ánh đúng tâm lý xã hội thời bấy giờ.
Một chiếc xe đạp người ta dùng mấy chục năm không thể hỏng, bởi vì được chăm chút, nâng niu rất kỹ lưỡng. Khi xích xe đi đã gião nhoẹt, người ta lộn ngược mắt xích rồi chốt lại để chạy tiếp; vành xe bị méo lệch (sang vành) thì đem đi “cân lại” cho tròn trịa. Vậy nên mới có những hiệu sửa xe đạp kèm theo tấm bảng “Cân vành, lộn xích xe đạp” ở khắp các ngả đường.
Nhiều khi lốp xe hỏng, ruột săm phòi cả ra ngoài như quả bóng, người ta dùng tất cả các loại dây có thể để bó chặt lại, gọi là “lốp cố vấn” cho oách chứ thực ra là “cố mà vấn lại” dùng tạm lúc cấp bách. Nếu lớp cao su bên ngoài mòn vẹt mà lớp bố bên trong chưa rách, người ta không vứt đi mà đem đến các tổ hợp dịch vụ, để đắp lại lớp cao su trông hệt như lốp mới. Săm thủng thì vá bằng keo cao su non (với 2 kiểu là vá sống, vá chín). Nếu săm đã vá quá nhiều lỗ, người thợ sẽ cắt bỏ hẳn đoạn nát đi, dùng một đoạn săm cũ còn tốt từ chiếc xe khác nối vào, dài bằng đúng đoạn bỏ đi, gọi là “măng sông nối”. Bởi vậy, nghề sửa xe đạp thời kỳ này ngoài những việc sửa thông thường còn phát sinh thêm các dịch vụ đặc trưng: cân vành, lộn xích, vá sống, vá chín, măng sông và đắp lốp cũ.
Cũng xuất phát từ tinh thần tiết kiệm từng chút một, tái sử dụng tất cả những gì còn có thể, trên khắp các con phố thời ấy nhan nhản những biển hiệu bơm mực bút bi và bơm bật lửa ga. Người ta chắt chiu từ cái ruột bút cho đến cái vỏ bật lửa đã cạn.
Nhiều khi bút bi bơm lại hay bị phân đoạn mực, nét chữ đứt quãng không chịu xuống, hoặc mực chảy nhoe nhoét ra tay. Bật lửa ga bơm lại thì hay gặp phải ga kém phẩm chất nên rất khó cháy, hoặc đang dùng thì hết đá nửa chừng là “chuyện thường ngày ở huyện”.
3- Tiếng Rao Trưa Hè Và Những Ký Ức Tuổi Thơ
Bên cạnh những cửa hàng cố định, ngày ấy còn có những nghề đi làm dạo khắp các hang cùng ngõ hẻm. Cứ hễ nghe tiếng rao trầm ấm: “Ai mài dao kéo đê…” là các bà, các mẹ lại vào bếp tìm xem có con dao, cái kéo nào cùn mang ra cho ông thợ mài lại cho sắc lẹm.
Song hành với nghề mài dao kéo là nghề cưa xẻ gỗ dạo. Vào những buổi trưa hè oi ả, người ta thường gặp hai bác thợ xẻ vai đeo chiếc cưa bản lớn cùng bộ đồ nghề, cất tiếng rao: “Ai cưa xẻ đê”. Nhà ai có dự định đóng giường, tủ, bàn ghế mà đã tích trữ sẵn vài súc gỗ, chỉ việc mời họ vào xem xét, thỏa thuận giá cả là triển khai luôn tại sân. Trong lúc các bác thợ cặm cụi làm việc, đám trẻ con chúng tôi lại túm áo nhau nối đuôi thành một đoàn tàu, vừa chạy quanh sân vừa nghêu ngao đồng dao:
“Kéo cưa lừa xẻ…
Ông thợ nào khỏe,
về ăn canh cua.
Ông thợ nào thua,
thì về bú mẹ…”
Những tiếng cười trẻ thơ cứ thế vang xa, rộn rã cả một góc trời.
Một nghề nữa mà lũ trẻ chúng tôi ngày đó vừa sợ vừa ghét, ấy là nghề cắt tóc dạo. Đặc trưng của các bác thợ là chiếc hòm đồ nghề khoác chéo vai và một chiếc ghế gấp xách trên tay hoặc kẹp nách. Trong hòm thế nào cũng có chiếc tông đơ bóp tay bằng thép sáng bóng phát ra tiếng kêu “kình… kịch…” và cái kéo sắc lẹm nhịp nhàng “tắc… tắc… tắc…” trên tay bác thợ khi tác nghiệp.
Mỗi lần ngồi lên ghế, tôi thường bị dọa nếu không ngồi yên bác sẽ cắt mất tai. Thế là tôi ngồi im thin thít, thậm chí nhiều lúc không dám thở.
Nhưng đáng sợ nhất là lúc bác thợ liếc lưỡi dao cạo mỏng dính vào dải da dài móc bên cạnh chiếc gương, rồi dùng chiếc chổi quét bọt xà phòng khắp diềm chân tóc xuống quanh mặt, quanh cằm - dù lúc đó tôi chưa hề có râu ria gì. Những khoảnh khắc ấy tôi lạnh toát cả sống lưng, nín thở hồi hộp chịu trận, không dám nhúc nhích dù chỉ một li…
Thế nhưng, vào những ngày hè nóng bức, chỉ cần nghe thấy tiếng “bép po… bép po…” phát ra từ chiếc kèn hơi bằng cách bóp quả bóng cao su của người bán kem dạo, chả ai bảo ai, lũ trẻ chúng tôi lại ùa ra chạy theo chiếc thùng kem chỉ để… nuốt khan và đứng nhìn cho đỡ thèm vì không có tiền.
Chao ôi, ngày đó chúng tôi làm gì biết đến kem cốm, kem sữa hay kem sô-cô-la bốc khói thơm phức, ngọt ngào như bây giờ. Kem thời đó dặt một loại nước đường pha phẩm màu đông đá. Vậy mà khi cây kem được rút ra khỏi chiếc thùng gỗ giữa trưa hè nắng gắt, cái cảm giác mát lạnh chảy từ đầu lưỡi xuống cổ họng và những ánh mắt thèm thuồng của lũ trẻ chúng tôi ngày ấy… đến tận bây giờ tôi vẫn nhớ như in. Nó diệu kỳ như một món quà bước ra từ miền cổ tích, như thần tiên giáng trần…
Ở một góc phố khác, dưới bóng mát của những gốc cây hay bên cạnh những cây cột điện thép sơn đen xì, người ta lại bắt gặp hình ảnh những bác thợ đứng tuổi khéo tay, cặm cụi bên chiếc bếp dầu liu riu lửa. Trên bếp cắm sẵn những mỏ hàn tự chế để tỉ mỉ, khéo léo hàn lại những đôi dép nhựa đứt quai hay những chiếc xô thùng đựng nước bị thủng.
Tôi nhớ mãi bác thợ hàn dép đầu phố. Ngón tay chai sần, đen kịt nhựa. Vá xong đôi dép đứt quai cho tôi, bác cười hiền: “Đi tạm nhé cháu. Khi nào có dép mới thì cho bác xin lại cái này, bác vá cho đứa khác”.
Còn nhiều, rất nhiều những cái nghề như thế nữa… Nhưng theo bánh xe thời gian và sự phát triển của nền kinh tế đất nước, việc những ngành nghề ấy lùi vào quá khứ và biến mất hoàn toàn là một tất yếu lịch sử.
Tất cả giờ đây đã trở thành dĩ vãng, chỉ còn vẹn nguyên trong ký ức của những con người đã từng đi qua giai đoạn ấy. Đó là một thời kỳ vô cùng đặc biệt của đất nước: đầy rẫy những khó khăn, chồng chất những gian khổ, nhưng lạ thay, gương mặt ai hầu như cũng ngời lên nụ cười rạng rỡ và ánh mắt lấp lánh niềm tin.
Bởi ngày ấy, tất cả chúng tôi đều có chung một khát vọng và niềm tin mãnh liệt: ngày mai, tương lai sẽ rạng rỡ trên khắp quê hương Việt Nam.
4/6/2026
LTĐ.